Chào mừng bạn đến với website của Trịnh Hữu Lý

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Tài liệu quản lý trường học >

Tổng kết công tác NCKH, vết SKKN 5 năm (2005-2010)

PHÒNG GD&ĐT NGA SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Trường Trung học cơ sở Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NGA LĨNH Số /BCTK Nga Lĩnh, ngày 17 tháng 11 năm 2010 BÁO CÁO TỔNG KẾT 5 NĂM ĐÚC RÚT SKKN Giai đoạn 2005-2010 Thực hiện công văn số 135/CV-UBND-GD ngày 15 tháng 10 năm 2010 của Phòng GD&ĐT Nga Sơn hướng dẫn Tổng kết 5 năm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đúc rút SKKN giai đoạn 2005-2010, trường THCS Nga Lĩnh đánh giá kết quả thực hiện trên một số nội dung sau: Phần 1: TỔNG KẾT CÔNG TÁC NCKH VÀ ĐÚC RÚT SKKN 5 NĂM I- ĐẶC ĐIỂM CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ ĐÚC RÚT SKKN 5 NĂM QUA: 1- Thuận lợi: Việc thực hiện nhiệm vụ NCKH và đúc rút SKKN trong giai đoạn 2005-2010 ở trường THCS Nga Lĩnh có những thuận lợi cơ bản: - Giai đoạn 2005-2010 là giai đoạn bậc học THCS thực hiện chương trình sách giáo khoa các bộ môn trong toàn cấp ổn định. - Rút kinh nghiệm từ những năm học trước đó, Phòng GD&ĐT, Ban Gián hiệu nhà trường đã có sự chỉ đạo chặt chẽ, việc NCKH và đúc rút SKKN đã được nhà trường chỉ đạo sát thực, gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên. - Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, đoàn kết, sống và làm việc có kỷ cương-tình thương- trách nhiệm, có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng cao, thực hiện tốt quy chế chuyên môn, pháp lệnh công chức, điều lệ trường học. Đặc biệt trong đơn vị có nhiều đồng chí có số năm công tác trên 10 năm nên việc đúc rút kinh nghiệm chuyên môn đạt hiệu quả cao. - Cơ sở vật chất được đầu tư khá cơ bản, phục vụ tương đối tốt cho hoạt động giảng dạy và quản lý của nhà trường; đặc biệt là việc đầu tư, mua sắm máy vi tính, kết nối Internet trong nhà trường đã giúp cho giáo viên, cán bộ quản lý các nhà trường thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm và trau dồi thông tin kiến thức, phục vụ tốt cho công tác NCKH và đúc rút SKKN. 2- Những khó khăn: - Giai đoạn 2005-2010 các nhà trường THCS nói chung và trường THCS Nga Lĩnh nói riêng giảm về quy mô số lớp học, số lượng học sinh, gây không ít khó khăn cho nhà trường trong công tác tổ chức và chỉ đạo hoạt động chuyên môn. - Liên tục nhiều năm đơn vị thiếu giáo viên, thường xuyên có giáo viên luân chuyển công tác, số giáo viên được bổ sung vài năm nay chủ yếu là mới ra trường, kiến thức rất nhiều nhưng kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế nên trong công tác đúc rút kinh nghiệm của một số ít giáo viên hiệu quả đạt chưa cao. - Năng lực của một bộ phận giáo viên còn nhiều hạn chế, bất cập trong việc sử dụng thiết bị kỹ thuật, tìm tòi và đổi mới phương pháp dạy học. - Trong đơn vị vẫn còn một vài đồng chí chưa thực sự đầu tư cho công tác tự học, tự bồi dưỡng, còn có tính ỷ lại, hoặc viết SKKN cho qua chuyện nên có một số đồng chí nhiều năm không tham gia hoạt động nghiên cứu SKKN hoặc không có SKKN xếp loại ở cấp trường, cấp huyện. - Cơ sở vật chất tuy đã được đầu tư nhưng còn nhiều hạn chế bất cập về chất lượng, nhiều hạng mục công trình còn thiếu nhất là khối phòng học chức năng, khu phục vụ học tập còn thiếu đã gây ra những khó khăn không nhỏ cho nhà trường trong việc tổ chức dạy học và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học bộ môn. II-ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG NCKH VÀ ĐÚC RÚT SKKN 5 NĂM: 1- Về xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động: - Dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT, đầu năm học nhà trường đã xây dựng kế hoạch triển khai nhiệm vụ NCKH và đúc rút SKKN đến mọi CBGV ngay từ đầu năm học; tổ chức cho giáo viên đăng ký đề tài thực hiện trong năm. Kế hoạch và yêu cầu về công tác viết SKKN và NCKH tập trung vào 5 nội dung chính: a- Kế hoạch định hướng. b- Yêu cầu cần đạt với một bản SKKN: Gồm 4 tiêu chuẩn. c- Tổ chức thực hiện. d- Thu và chấm ở cấp trường. e- Thi đua - khen thưởng. - Phân công các thành viên trong Hội đồng khoa học và những giáo viên có kinh nghiệm thường xuyên, theo dõi giúp đỡ giáo viên đã đăng ký đề tài nghiên cứu trong việc xây dựng đề cương và viết SKKN. - Xây dựng tiêu chí thi đua và xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ quy định mức thưởng cho kết quả SKKN đạt được để khích lệ tinh thần sáng tạo, tinh thần tự học, tự bồi dưỡng của cán bộ giáo viên của nhà trường. 2- Việc tuyển chọn, đánh giá, nghiệm thu đề tài NCKH và SKKN: - Hàng năm Hiệu trưởng có Quyết định thành lập Hội đồng khoa học cấp trường do đồng chí Hiệu trưởng là Chủ tịch Hội đồng, Đồng chí phó Hiệu trưởng, Chủ tịch Công đoàn là phó chủ tịch, một số giáo viên có kinh nghiệm, bản thân đã đạt giáo viên giỏi cấp huyện, có SKKN xếp loại A, B cấp huyện và xếp loại cấp tỉnh là thành viên Hội đồng. - Trung tuần tháng 4 hàng năm Nhà trường tổ chức thu các bản SKKN của giáo viên qua các tổ chuyên môn, Hội đồng khoa học chia những SKKN đó thành nhiều nhóm và phân công các thành viên Hội đồng chấm theo 2 vòng độc lập. Tổng hợp kết quả và công bố kết quả vào dịp Tổng kết năm học, sau đó lựa chọn những bản đạt chất lượng tốt nhất (theo đúng quy định số lượng của Phòng GD&ĐT ) tham gia dự thẩm định và xếp loại của Hội đồng khoa học cấp huyện. - Trong quá trình chấm, Hội đồng khoa học của Nhà trường tổ chức nghiệm thu đề tài của giáo viên bằng nhiều hình thức: Ra đề bài kiểm tra lại chất lượng học sinh; dựa vào kết quả thi định kỳ, thi học sinh giỏi, thi giáo viên giỏi các cấp ...... 3- Việc ứng dụng và phổ biến các đề tài NCKH và SKKN những năm qua: - Trong 5 năm qua nhà trường đã có 21/28 bản SKKN được xếp loại cấp trường, 21/28 bản SKKN được xếp loại cấp huyện, 02 SKKN được xếp loại cẩp tỉnh, hàng năm nhà trường đã tổ chức Hội nghị khoa học cấp trường nhằm đúc rút SKKN với các nội dung chính: + Tổng kết việc viết SKKN của năm học trước; tổ chức cho giáo viên có SKKN được xếp giải năm học trước phổ biến sáng kiến của mình để toàn trường rút kinh nghiệm, học tập và áp dụng. + Triển khai kế hoạch viết SKKN nghiệm cho năm học mới. - Phần lớn các SKKN đều đã và đang được áp dụng có hiệu quả trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh, trong công tác quản lý chỉ đạo của nhà trường. Đặc biệt trong 5 năm qua đơn vị có 2 SKKN được xếp loại cấp tỉnh, có SKKN đã được thiết kế và xây dựng thành phần mềm tin học, trong nhiều năm qua đã và đang được nhiều trường học trong và ngoài tỉnh áp dụng có hiệu quả tốt, 1 SKKN về nâng cao chất lượng giảng dạy tiết ôn tập hóa học được đồng nghiệp áp dụng có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. 4- Công tác thi đua, khen thưởng: - BGH Nhà trường coi công tác viết SKKN là một nội dung quan trọng trong công tác giảng dạy của Nhà trường, hàng năm nhà trường đã đưa việc viết SKKN là một tiêu chí thi đua để cán bộ giáo viên đăng ký và phấn đấu thực hiện. - Hàng năm đều xây dựng tiêu chí và mức thưởng cho mỗi bản SKKN đạt hiệu quả cao, những SKKN áp dụng được rộng rãi trong trường được thưởng thêm điểm vào tiêu chuẩn thiết thực và hiệu quả. Mức thưởng được đưa vào Quy chế chi tiêu nội bộ và được thưởng vào đầu năm học sau. III- NHỮNG TỒN TẠI VỀ CÔNG TÁC NCKH VÀ ĐÚC RÚT SKKN TRONG 5 NĂM QUA: 1- Về xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động: - Trong công tác xây dựng Kế hoạch của nhà trường có những mục còn chung chung, chưa cụ thể hóa các yêu cầu, nhiệm vụ. - Việc chỉ đạo giáo viên trong việc xây dựng đề cương, hướng dẫn viết thành SKKN chưa được thực hiện thường xuyên. - Bản thân người viết chưa nắm vững bố cục một đề tài nghiên cứu hoặc tổng kết sáng kiến kinh nghiệm nên trình bày ở một số SKKN còn thiếu mạch lạc, thiếu sự logic chặt chẽ, một số bài viết có dáng dấp bản báo cáo thành tích hoặc tham luận tại hội nghị. 2- Việc tuyển chọn, đánh giá, nghiệm thu đề tài NCKH và SKKN: - Nhiều năm qua Nhà trường liên tục thiếu giáo viên, thường có GV chuyển công tác, nên thành phần Hội đồng khoa học của Nhà trường bị thay đổi đã ảnh hưởng trực tiếp với việc phân công chấm SKKN trong từng năm học. - Việc nghiệm thu một số đề tài thuộc các môn đặc thù còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng. 3- Việc ứng dụng và phổ biến các đề tài NCKH và SKKN những năm qua: - Việc ứng dụng và phổ biến các đề tài NCKH và SKKN còn mang tính tự phát nên việc phổ cập, quảng bá tác dụng của các đề tài còn hạn chế. - Các đề tài thuộc phạm vi nâng cao chất lượng dạy học bộ môn về tính thiết thực và hiệu quả của SKKN đạt tốt nhưng việc ứng dụng cho đồng nghiệp thì hiệu quả đạt chưa cao. 4- Chế độ báo cáo: - Đơn vị thực hiện tốt chế độ báo cáo, không có tồn tại, hạn chế nào. 5- Công tác thi đua, khen thưởng: - Kinh phí khen thưởng cho mỗi SKKN còn rất khiêm tốn, tính khích lệ, động viên tác giả còn hạn chế . 6- Nguyên nhân những tồn tại trên: - Một số giáo viên chưa thực sự tập trung nghiên cứu và ứng dụng những kinh nghiệm của đồng nghiệp cho công tác của bản thân. - Kinh phí hoạt động của Nhà trường còn eo hẹp. Phần 2: PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NCKH VÀ ĐÚC RÚT SKKN TRONG GIAI ĐOẠN 2010-2015 I- CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG TỒN TẠI: 1- Trách nhiệm của cán bộ giáo viên và nhà trường: Nhà trường phân công các nhóm các thành viên giúp đỡ những đồng chí có những kinh nghiệm tốt, đã ứng dụng thành công viết thành những SKKN mang tính phổ biến rộng rãi trong toàn trường. Các tổ chuyên môn cần tăng cường sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau. 2- Trách nhiệm quản lý, chỉ đạo của Nhà trường: - Triển khai đầy đủ những văn bản hướng dẫn của Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT. Làm tốt hơn nữa công tác lưu trữ những SKKN, kết quả mà nhà trường đã đạt được trong từng năm học. - Thường xuyên cập nhật các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức cho cán bộ - giáo viên viết SKKN. II- PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG 5 NĂM TỚI: 1- Về xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động: - Xây dựng Kế hoạch về công tác viết SKKN của nhà trường phù hợp và cụ thể hơn, giúp CBGV có những định hướng tốt hơn và trình bày SKKN khoa học, sáng tạo hơn. 2- Việc tuyển chọn, đánh giá, nghiệm thu đề tài NCKH và SKKN: - Tiếp tục thực hiện tốt việc tuyển chọn, đánh giá, nghiệm thu đề tài SKKN tại đơn vị. Bám sát vào 4 tiêu chuẩn đành giá, xếp loại một SKKN một cách khách quan, công bằng và chính xác. 3- Việc ứng dụng và phổ biến các đề tài NCKH và SKKN: - Chỉ đạo bộ phận chuyên môn của Nhà trường có kế hoạch phổ biến rộng rãi những SKKN đạt hiệu quả cao để đồng nghiệp khác học hỏi, rút kinh nghiệm và ứng dụng cho bản thân trong công tác dạy và học. - Hàng năm hội đồng khoa học nhà trường chấm nghiệm thu, xếp loại, chọn các SKKN xếp loại A triển khai trước hội đồng nhà trường để tất cả CBGV học tập và áp dụng. - Hàng năm thường xuyên kiểm tra đánh giá mức độ , kết quả, áp dụng vào giảng dạy để đúc rút kinh nghiệm, sữa chữa và nhân rộng. 4- Chế độ báo cáo: - Chấp hành và thực hiện tốt hơn chế độ báo cáo hàng năm. 5- Công tác thi đua, khen thưởng: - Hàng năm hiệu trưởng - hội đồng khoa học nhà trường có kế hoạch và biện pháp đưa tiêu chí thi đua của CBGV gắn công tác NCKH,viết SKKN vào tiêu chí thi đua khen thưởng. Những SKKN được xếp giải cấp trường và đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh được ưu tiên xét các tiêu chí thi đua khen thưởng của CBGV. - Tăng nguồn kinh phí cho công tác khen thưởng cho mỗi SKKN đạt giải cấp huyện trở lên. * Những đề xuất, kiến nghị: - Đề nghị Phòng GD&ĐT cấp thêm tài liệu, văn bản của các cấp hướng dẫn về công tác viết SKKN giúp các nhà trường có thêm tài liệu chỉ đạo và xây dựng kế hoạch từng năm. - Tổ chức Hội thảo SKKN cấp huyện theo nhóm các đề tài để các Nhà trường có thêm kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo ở cơ sở. - Cung cấp cho các nhà trường những SKKN được xếp giải cao ở cấp tỉnh để các trường nhân rộng kinh nghiệm, ứng dụng vào các hoạt động của Nhà trường. CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC HIỆU TRƯỞNG Nơi nhận: - Phòng GD&ĐT (để BC) Trịnh Hữu Lý - Thành viên HĐKH trường (để TH) - Lưu VT
Nhắn tin cho tác giả
Trịnh Hữu Lý @ 21:07 17/11/2010
Số lượt xem: 380
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến